Tìm kiếm

Rèn luyện hạnh phúc vị tha

13/04/2019 20:27
Nghiên cứu cộng tác giữa những nhà thần kinh học và những thiền giả Phật giáo bắt đầu một cách nghiêm túc vào 50 năm trước. Những nghiên cứu này đã đưa đến nhiều xuất bản phẩm mà chúng đã thiết lập độ tin cậy của việc nghiên cứu về thiền và về việc đạt được sự cân bằng cảm xúc, một lĩnh vực mà nó chưa được nghiên cứu nghiêm túc cho đến thời điểm đó. Theo lời của nhà thần kinh học người Mỹ Richard Davidson, “Nghiên cứu về thiền chứng minh rằng bộ não có thể được rèn luyện và sửa đổi về phương diện vật lý theo những cách thức mà ít người có thể nghĩ”. (Kaufman, 2005).

Trong khi thiền quán về từ bi (Lutz 2004), hầu hết những thiền giả có kinh nghiệm đã cho thấy có một sự gia tăng đáng kể hoạt động não tần số cao mà nó được gọi là sóng gamma ở những khu vực của não liên quan với những cảm xúc tích cực và với sự cảm thông.

Hai mươi năm trước, hầu hết các nhà khoa học thần kinh đều chấp nhận rằng não bộ chứa tất cả những nơ-ron của nó vào lúc sinh, và rằng con số của chúng không thay đổi theo thời gian. Chúng ta bây giờ biết rằng những nơ-ron mới được sản sinh mãi cho đến lúc chết và chúng ta nói đến tính khả biến thần kinh (neuroplasticity), một thuật ngữ mà nó liên quan đến sự thật rằng bộ não thay đổi liên tục trong sự liên hệ với trải nghiệm của chúng ta. Ví dụ, một sự huấn luyện cụ thể chẳng hạn như học một nhạc cụ hay một môn thể thao có thể tạo nên một sự thay đổi sâu sắc. Cùng cách đó, chánh niệm, vị tha, lòng từ bi và những phẩm tính cơ bản khác của con người mà chúng cấu thành nên hạnh phúc có thể tu dưỡng nhờ vào thiền, và chúng ta có thể tìm được ‘bí quyết’ giúp chúng ta làm điều đó.

Trong Phật giáo, ‘thiền’ có nghĩa là ‘làm quen với’ hay ‘nuôi dưỡng’. Thiền bao gồm việc làm quen với một cách sống mới, một cách nhận thức mới về thế giới và làm chủ suy nghĩ của chúng ta. Thiền không phải là một vấn đề lý thuyết, mà là vấn đề thực hành. Nuôi dưỡng lòng từ bi, theo Phật giáo, là trọng tâm đối với hạnh phúc (Ricard 2010).

 Barbara Fredrickson đã thử nghiệm những ảnh hưởng của những cảm xúc tích cực tự sinh ra nhờ vào thiền từ bi. Bà đã thử nghiệm 140 người tình nguyện hoàn toàn không có kinh nghiệm về thiền trước đó và chỉ định ngẫu nhiên 70 người trong đó thực hành thiền từ bi 30 phút một ngày trong vòng bảy tuần. Bà so sánh kết quả với 70 người khác không thực hành thiền này. Kết quả rất rõ ràng. Theo lời của bà, “Khi người ta, hoàn toàn mới đối với thiền, học cách làm vắng lặng tâm của họ và mở rộng tình thương và sự tử tế, họ chuyển đổi bản thân từ trong ra ngoài.

Họ có nhiều thương yêu hơn, nhiều bình thản hơn, nhiều niềm vui hơn. Và mặc dù họ thường thiền một mình, những cảm xúc tích cực xuất hiện khi họ tiếp xúc với những người khác.” (Fredrickson 2008). Các thử nghiệm sau đó chứng nhận rằng chính những nối kết này ảnh hưởng nhiều nhất đến cơ thể của chúng ta, khiến cho cơ thể khỏe mạnh hơn (Kok 2010).

Tại Đại học Emory, Atlanta, một nhóm do Chuck Raison hướng dẫn, đã cho thấy rằng thiền quán từ bi trong ngắn hạn củng cố hệ thống miễn dịch và làm giảm sự viêm nhiễm. (Pace 2009).

Những tác dụng ngược

Sự ích kỷ, việc chú trọng vào bản thân quá mức, làm tăng thêm chủ nghĩa cá nhân, và việc tự quá yêu mình rõ ràng có những tác dụng ngược với lòng vị tha và do đó, tác dụng ngược với hạnh phúc. Chủ nghĩa cá nhân có một khía cạnh được hiểu ngầm mà nó đưa đến quan niệm rằng mọi người xứng đáng được tôn trọng và không thể bị sử dụng như một công cụ vì những lợi ích của người khác. Quan niệm này đã đưa đến sự nhận thức về các quyền cơ bản của con người và nó cho phép con người thực hiện những chọn lựa về cách họ muốn sống cuộc đời của họ mà không bị ràng buộc bởi những quy phạm độc đoán áp đặt lên họ.

Tuy nhiên, có một khía cạnh khác, khía cạnh có hại hơn của chủ nghĩa cá nhân mà nó đã gia tăng đáng kể trong vài thế hệ trước. Đó là một hình thức của thói vị kỷ mà nó nhằm tách mình ra khỏi bất kỳ ý nghĩa trách nhiệm nào đối với người khác và khuyến khích cá nhân chỉ đơn giản theo đuổi tham muốn và những xu hướng của mình mà không xem xét nhiều đối với xã hội. Một chủ nghĩa cá nhân như vậy, đặc biệt ở những quốc gia phát triển cao, đưa đến những ảnh hưởng tiêu cực như được mô tả bởi nhà tâm lý học Jean Twenge ở trong The Narcissism Epidemic (Twenge 2011). Theo Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders (DSM-IV-TR, 2000), một trong trong những đặc điểm của việc quá yêu bản thân là sự thiếu cảm thông.

Chủ nghĩa cá nhân và sự vị kỷ thiếu quan tâm người khác cùng những vấn đề toàn cầu chẳng hạn như môi trường, là một đặc điểm mà nhà tâm lý học người Mỹ Tim Kasser nhìn thấy trong số những người mà họ dành sự ưu tiên cho những giá trị bên ngoài và sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Kasser và những đồng nghiệp của mình tại Đại học Rochester phát hiện thông qua những nghiên cứu mà nó kéo dài hai thập kỷ và bên trong một nhóm dân số đại diện rằng, những cá nhân tập trung đời sống của họ vào tài sản, hình ảnh, địa vị xã hội, và những giá trị vật chất khác mà chúng được đẩy mạnh bởi xã hội tiêu thụ thì ít thỏa mãn với đời sống của họ (Kasser 2003 và 2008).

Bám chấp vào tiêu thụ không chỉ liên quan đến những mức độ khổ đau cao hơn, mà cũng liên quan đến những mức độ hạnh phúc thấp hơn. Những người bám vào tiêu thụ cho thấy họ có ít cảm xúc dễ chịu chẳng hạn như hạnh phúc, hài lòng, vui vẻ, thỏa mãn. Họ càng trở nên buồn chán và lo lắng, và dễ bị đau đầu và đau bao tử hơn. Họ uống nhiều rượu và hút nhiều thuốc hơn. Họ thích cạnh tranh hơn, ít đóng góp vào lợi ích chung khi họ chủ yếu tập trung vào bản thân, và họ ít quan tâm đến những vấn đề môi trường.

Những mối quan hệ xã hội của họ bị suy yếu và họ có ít đi những người bạn chân thật. Họ thể hiện ít cảm thông và thương yêu đối với những người khổ đau, họ quỷ quyệt và có khuynh hướng thoái thác người khác cho lợi ích của họ. Thậm chí sức khỏe của họ kém hơn so với phần còn lại của dân chúng. Họ cũng ít quan tâm đến những giải pháp mà chúng cần đến một cái nhìn tổng quát về các vấn đề và một tinh thần hợp tác.

Những kết quả tương tự được tường trình ở Bắc Mỹ, châu Âu và châu Á. Tóm lại, nhóm nghiên cứu này cho thấy rằng việc tập trung vào tiêu thụ dường như làm tăng lên, chứ không phải giảm, những khổ đau con người và chống lại những tương tác lành mạnh, hợp tác của con người. Ví dụ, nghiên cứu liên văn hóa của Schwartz (1992) cho thấy rằng khi người ta xem giá trị của đời người chỉ ở nơi tài sản và địa vị, họ có khuynh hướng ít quan tâm những giá trị chẳng hạn như ‘bảo vệ môi trường’, ‘đạt được sự hòa hợp với thiên nhiên’, và tạo ra ‘một thế giới tươi đẹp’.

 

Matthieu Ricard

Các tin tức khác